Vụ giết người, chôn xác phi tang bí ẩn và tài xử án của Nhữ Đình Hiền

Chủ nhật - 19/05/2019 20:51

Nhiều năm sau vụ án thương tâm, quan lại triều Hậu Lê vẫn không có cách gì làm sáng tỏ nghi vấn. Kẻ thủ ác vẫn chìm trong bóng tối, sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Thượng thư Nhữ Đình Hiền đã vào cuộc điều tra.

Dọa kẻ thủ ác bằng... giấc mộng

Theo sách "Việt án lần theo trang sử cũ", bấy giờ ở vùng quê có hai chị em ruột đều lập gia đình. Dù nhà chị ở cách khá xa, biết tin chị ốm, em gái vẫn cố đến săn sóc. Sau một thời gian, người chồng của em gái không thấy vợ trở về, nghi có việc chẳng lành, nên báo quan.

Sau vụ kiện, chồng của chị gái trở thành nghi phạm lớn nhất, bị giam vào ngục. Các quan thay nhau xét án, nhưng không có chứng cứ, dẫn đến đình trệ tới sáu, bảy năm.

Tranh minh họa Nhữ Đình Hiền phá án.

Quan sát quãng đường từ nhà em tới chị, thượng thư bộ Hình Nhữ Đình Hiền thấy một ngôi chùa ở ngoài cánh đồng, cây cối rậm rạp. Nạn nhân chắc chắn phải đi qua đây. Ông sai người đưa tới ngôi chùa kia, lấy lý do lưu lại một đêm.

Sáng hôm sau, Nhữ Đình Hiền cho triệu tập các tăng đồ trong chùa, lấy cớ đêm qua nằm thấy có người đến báo mộng, dọa rằng: "Các người đều là kẻ tu hành, sao lại có oan hồn đến tố giác với ta? Vậy thì sự thể ra sao, phải mau tự thú".

Những tên sư hổ mang tái mặt khi nghe ông nói, sau đó phải tự thú đã hãm hiếp nạn nhân, rồi chỉ tay ra một cây tháp. Khi đào chỗ ấy lên, người ta phát hiện xác thiếu phụ. Vụ án được làm sáng tỏ, chồng của chị gái thoát khỏi ngục tù. Còn những tên sư phạm tội thì nghiêm trị không chút dung tha.

Nhờ có biệt tài xét án của Nhữ Đình Hiền, nhiều vụ án lớn, phức tạp về sau đều được giải quyết thỏa đáng. Nói về ông, người đương thời có câu khen: “Văn chương Lê Anh Tuấn / Chính sự Nhữ Đình Hiền”.

Ông nằm trong danh sách “Tràng An tứ hổ”, gồm 4 danh thần giỏi bậc nhất đất Thăng Long, gồm Vũ Diệm, Nguyễn Bá Lân, Nhữ Đình Hiền, Nguyễn Công Thái.

Ông tổ nghề lược của nước Việt

Theo sách "Hải Dương phong vật chí", Nhữ Đình Hiền, còn có tên khác Nhữ Tiến Hiền, người làng Hoạch Trạch, huyện Đường An, xứ Hải Dương (nay thuộc xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Cha ông là tiến sĩ nhà Lê - Nhữ Tiến Dụng.

Xuất thân trong gia đình khoa bảng danh giá đương thời, noi gương cha, ông học hành rất giỏi. 17 tuổi, ông thi hương, đỗ tứ tường; 21 tuổi đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. 26 tuổi, ông giữ chức hình khoa đô cấp sự trung.

Sau đó, ông lần lượt làm đốc đồng xứ Kinh Bắc, rồi tham chính Sơn Nam, được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc. Trở về nước, ông làm quan đến Hình bộ Thượng thư, tước hầu.

Ngoài biệt tài xử án, Nhữ Đình Hiền và phu nhân là Lý Thị Hiệu còn có công đem nghề làm lược tre truyền cho dân làng Hoạch Trạch. Bấy giờ, dân ta thường dùng lược gỗ, hoặc sừng, răng thưa. Từ những quan sát trên đường đi, Nhữ Đình Hiền nghĩ rằng ở nước ta, cây tre mọc nhiều, rất thuận lợi về nguyên liệu. Người dân lại để tóc dài, nếu có lược bí làm từ tre thì rất tốt.

Trên chuyến đi này, ngoài nhiệm vụ của một chánh sứ, ông cặm cụi học nghề. Sau đó, ông âm thầm dạy lại cho vợ là Lý Thị Hiệu. Về nước, hai vợ chồng Nhữ Đình Hiền truyền nghề làm lược tre cho dân làng và hướng dẫn, giúp đỡ, tập hợp thợ thành phường nghề, gọi là Diên Lộc, chuyên làm lược tre.

Sau khi về trí sĩ, Nhữ Đình Hiền được vua ban 16 mẫu ruộng lộc điền. Ông chỉ giữ lại 4 mẫu làm ruộng hương hỏa, còn lại tặng hết cho phường Diên Lộc để làm hoa lợi phát triển nghề làm lược.

Từ đây, nhiều thợ giỏi ra Thăng Long sản xuất, kinh doanh lược, tạo thành phố Hàng Lược (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội ngày nay). Khi Nhữ Đình Hiền mất, người dân nhớ ơn đã lập đền thờ, tôn ông và vợ là thánh sư nghề làm lược.

Nguyễn Thanh Điệp

Nguồn tin: www.baomoi.com

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây